Sinh thái học và việc quản lí tài nguyên thiên nhiên

I. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

A. Các dạng tài nguyên thiên nhiên và sự khai thác của con người.

- Tài nguyên thiên nhiên được chia thành 3 nhóm lớn: tài nguyên vĩnh cửu (năng lượng mặt trời, địa nhiệt, thủy triều, gió…), tài nguyên tái sinh (đất, nước, sinh vật…) và tài nguyên không tái sinh (khoáng sản và phi khoáng sản).

- Con người ngay từ khi mới ra đời đã biết khai thác tất cả các dạng tài nguyên. Chỉ hơn 2 thế kỉ qua, tốc độ khai thác và sự can thiệp của con người vào thiên nhiên ngày 1 gia tăng làm cho thiên nhiên biến đổi sâu sắc.

1. Sự suy thoái của các dạng tài nguyên.

- Con người đã khai thác quá nhiều các dạng tài nguyên không tái sinh (sắt, nhôm, đồng, chì, than đá, dầu mỏ, khí đốt…) cho phát triển kinh tế. Trữ lượng của nhiều khoáng sản quý đang giảm đi nhanh chóng, 1 số kim loại với trữ lượng thấp có nguy cơ cạn kiệt hoàn toàn.

- Các dạng tài nguyên tái sinh như đất bị ô nhiễm, rừng đang bị giảm sút và suy thoái nghiêm trọng. Đất trống đồi trọc và nạn hoang mạc hóa ngày càng 1 mở rộng trên nhiều vùng do chặt phá rừng, chăn thả gia súc quá mức, tưới tiêu không hợp lí và do quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa. Ngay ở nước ta, độ che phủ của rừng có thời kì xuống đến 28%, dưới mức báo động. Hiện tại, nhờ khôi phục lại rừng, con số đó đã tăng trên 30% nhưng rừng nguyên sinh chỉ còn 7% diện tích.

- Nước ngọt trên hành tinh cũng không còn là tài nguyên vô tận do sử dụng lãng phí và bị ô nhiễm bởi các hoạt động của con người.

- Khai thác thủy hải sản đã vượt quá mức cho phép, nhiều loài bị tiêu diệt hoặc bị suy giảm. Biển ven bờ nước ta cũng rơi vào tình trạng suy kiệt. Nhiều loài đặc sản không còn cho sản lượng khai thác như: cá mòi cờ, cá cháy, trai ngọc, bào ngư, đồi mồi,…

- Đa dạng sinh học bị tổn thất ngày càng 1 lớn. Đến nay, khoa học mới mô tả được khoảng 2% số loài sinh vật từng có mặt trên trái đất, nhưng hàng nghìn loài, kể cả những loài mà khoa học chưa biết đến đã bị tiêu diệt hoặc rơi vào cảnh suy thoái. Nếu tốc độ thất thoát đa dạng sinh học vẫn không được ngăn chặn thì 25% tổng số loài hiện nay trên thế giới sẽ bị tiêu diệt vào năm 2050.

2. Ô nhiễm môi trường.

- Ô nhiễm không khí do hoạt động của con người thải vào khí quyển quá nhiều khí thải công nghiệp, nhất là CO2, trong khi diện tích rừng và các rạn san hô, nơi thu hồi phần lớn lượng CO2 ngày 1 thu hẹp. Hậu quả của ô nhiễm không khí là làm tăng hiệu ứng nhà kính, làm cho tầng ozon bị thủng, gây ra mưa acid, khói mù quang hóa, ảnh hưởng lớn đến khí hậu, thời tiết, năng suất vật nuôi, cây trồng và sức khỏe của con người.

- Môi trường đất và nước còn như 1 thùng rác khổng lồ chứa tất cả các chất thải lỏng và rắn, nhiều mầm bệnh và các chất phóng xạ từ mọi nguồn.

3. Con người làm suy giảm chính cuộc sống của mình.

Chất lượng cuộc sống của con người rất chênh lệch ở các nước khác nhau. Hiện tại, dân số thuộc các nước phát triển sống sung túc, trong khi ¾ dân sô nhân loại tập trung ở các nước đang phát triển còn phải sống quá khó khăn với gần 1 tỉ người không đủ ăn, 1.4 triệu người thiếu nước sinh hoạt, gần 100 triệu người bị bệnh sốt rét, hàng trăm triệu người nhiễm HIV-AIDS. Sức tiêu thụ của con người ngày 1 lớn, trong khi khả năng đồng hóa của môi trường lại rất hạn chế. Sự phát triển của nền kinh tế, nhất là trong giai đoạn công nghiệp hóa và nông nghiệp hóa đã và đang để lại cho môi trường nhiều chất thải độc hại như: các kim loại nặng, thuốc trừ sâu, diệt cỏ, các chất phóng xạ… gây cho loài người nhiều bệnh nan y.

B. Vấn đề quản lí tài nguyên cho phát triển bền vững.

- Thực tế đang tồn tại mâu thuẫn: muốn nâng cao đời sống, con người phải khai thác tài nguyên, phát triển kinh tế, nhưng điều đó lại gây nên sự suy giảm tài nguyên, ô nhiễm môi trường, tác động tiêu cực đến đời sống xã hội. Trước tình trạng đó, con người phải biết quản lí, khai thác tài nguyên 1 cách hợp lí, bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ sự trong sạch của môi trường. Trước hết, con người phải tự nâng cao nhận thức và sự hiểu biết, thay đổi hành vi đối xử với thiên nhiên. Đó chính là nội dung cơ bản của chiến lược phát triển bền vững.

- Phát triển bền vững là khái niệm mới được ra đời chính thức từ Hội nghị thượng đỉnh về môi trường họp ở Rio de Janeiro (Brazin) vào năm 1992 và có nội dung hoàn toàn khác với khái niệm “phát triển kinh điển”. Phát triển bền vững là “sự phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại, nhưng không ảnh hưởng đến khả năng thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ tương lai”.

- Các giải pháp chính của sự phát triển bền vững là:

+ Giảm đến mức thấp nhất sự khánh kiệt tài nguyên không tái sinh trên cơ sở tiết kiệm, sử dụng lại và tái chế các nguyên vật liệu; khai thác và sử dụng hợp lí các tài nguyên có khả năng tái sinh (đất, nước và sinh vật).

+ Bảo tồn đa dạng sinh học, bao gồm bảo vệ các loài, các nguồn gen và các hệ sinh thái, nhất là những hệ có sức sản xuất cao mà con người đang sống dựa vào và những hệ sinh thái nhạy cảm với tác động của các nhân tố môi trường.

+ Bảo vệ sự trong sạch của môi trường đất, nước và không khí.

+ Kiểm soát được sự gia tăng dân số, nâng cao chất lượng cuộc sống và tinh thần cho con người, trong đó con người phải được sống bình đẳng với nhau về quyền lợi và nghĩa vụ, đồng thời con người phải sống hài hòa với thế giới tự nhiên.

II. CÁC DẠNG BÀI TẬP

Bài 1: Thế nào là sinh quyển, tài nguyên không tái sinh, tài nguyên tái sinh? Nêu ảnh hưởng của con người đến nguồn tài nguyên.

                                                               Hướng dẫn giải

I. Khái niệm sinh quyển, tài nguyên

1. Sinh quyển: Là một phần của Trái Đất và cả khí quyển của nó, nơi có sinh vật sinh sống, bao phủ bề mặt Trái Đất gồm thạch quyển sâu vài chục mét; thủy quyển sâu 10-11km; khí quyển từ mặt đất cao đến 6-7km.

2. Tài nguyên không tái sinh: Gồm các khoáng sản là nguyên liệu tự nhiên, nguồn gốc hữu cơ hoặc vô cơ phần lớn nằm trong đất.

+ Khoáng sản nhiên liệu: Gồm than đá, dầu mỏ, khí đốt, năng lượng, ánh sáng, gió, sóng biển, thủy triều.

+ Khoáng sản nguyên liệu: Gồm vàng, đồng, thiếc, nhôm, chì...

3. Tài nguyên tái sinh: Bao gồm các tài nguyên rừng và lâm nghiệp, đất và nông nghiệp; sông, biển, ao hồ và ngư nghiệp.

II. Ảnh hưởng của con người

+ Con người khai thác tài nguyên làm cải biến thiên nhiên, biến đổi môi trường gồm các hoạt động có ý thức như khai thác than đá, đào kênh, phá núi, ngăn sông, thủy điện, hồ chứa nước nhân tạo, nhà máy, khai thác rừng... hoạt động vô ý thức như khai thác tài nguyên bừa bãi, đốt phá rừng...

+ Vấn đề tăng dân số chiếm diện tích xây dựng, rừng bị tàn phá khốc liệt, nhiều hệ sinh thái quý giá bị suy thoái, khí hậu thay đổi theo chiều hướng xấu đi rõ rệt.

Bài 2: Ô nhiễm môi trường là gì? Nêu nguyên nhân và biện pháp khắc phục nạn ô nhiễm môi trường.

                                                                 Hướng dẫn giải

I. Ô nhiễm môi trường

Là sự thay đổi không mong muốn tính chất vật lí hóa học, sinh học của không khí, đất, nước của môi trường sống, gây tác động nguy hại tức thời hoặc trong tương lai đốn sức khỏe và đời sống con người. Làm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất, đến các tài sản văn hóa, tổn thất nguồn tài nguyên dự trữ của con người.

II. Nguyên nhân ô nhiễm môi trường

Do các hợp chất hỗn hợp

a) Các khí công nghiệp phổ biến như CO, CO2, SO2, NO2, các hiđrôcacbua; ôxi, nitơ và hiđrô cacbua từ máy nổ liên kết khi có ánh sáng mặt trời sẽ độc hơn gọi là "khói mù quang hóa học".

b) Thuốc trừ sâu và chất độc hóa học: DDT và các chất độc hóa học làm ô nhiễm sinh quyển.

c) Thuốc diệt cỏ: gồm 2.4.5T làm rụng lá; chất 2.4D và 2.4.5T có sản phẩm phụ là điôxin gây quái thai, làm chết cây cỏ.

d) Các chất gây đột biến như phóng xạ dùng trong khoa học, trong y học, các vụ thử vũ khí hạt nhân.

e) Do các hoạt động con người:

+ Hoạt động có ý thức: Động cơ nổ các loại, phá núi rừng làm nơi ở, đường sá, khai thác rừng, sông, biển, chất hóa học trong nông nghiệp...

+ Hoạt động vô ý thức: Chặt, đốt phá rừng, săn bắn bừa bãi, rác thải...

III. Biện pháp phòng, chống ô nhiễm môi trường

1) Biện pháp hóa công nghiệp: Sản xuất theo chu trình kín; khử, lọc nước và khí thải; dùng nguyên liệu mới ít ô nhiễm; thay máy móc hiện đại hơn.

2) Biện pháp sinh học - kĩ thuật:

a) Chống xói mòn làm kiệt quệ đất, sử dụng hợp lí nguồn nước ngọt.

b) Chống sinh vật phá hoại mùa màng, chim, chuột, sóc;... Hạn chế dùng thuốc trừ sâu, diệt cỏ thay vào bằng thiên địch như dùng ong mắt đỏ ký sinh. Dùng nấm phấn trắng gây bệnh cho sâu hại cây trồng... Dùng phân vi sinh.

c) Cải tạo giống vật nuôi cây trồng.

d) Hợp lí hóa việc bảo vệ và khai thác tài nguyên động và thực vật bảo vệ và thuần dưỡng động vật hoang dại: phát triển rừng cấm quốc gia và các vườn thú tự nhiên, xây dựng các vùng liên hợp kinh tế (rừng - săn bắn; đồng cỏ - săn bắn; hồ nuôi - đánh bắt cá) với qui hoạch nuôi trồng và phương án tối ưu về khai thác tài nguyên.

e) Trồng rừng, cây xanh đô thị, vườn nhà, đào kênh sông...

Thống kê thành viên

Tổng thành viên 86.806
Thành viên mới nhất huy-nguyen